Tong so pageviews

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Tình-Ta-Là-Vạn-Lý-Trường-Thành


Tình-Ta-Là-Vạn-Lý-Trường-Thành

Tác giả: Dương Lam  ( vophubong)

Những ngày nghỉ học em đi vắng
Hồn thấy hoang vu buồn rất buồn.
Khung cửa nhà ai vừa khép kín,
Chiều tà nắng nhạt chảy rưng rưng.

Tiếng guốc kìa ai khua ngõ vắng
Mắt mòn thương nhớ mỏi sao khuya.
Đêm về nhốt kín sao vào mắt
 Hỏi chuyện ân tình muôn thuở xưa .

Tà áo nào bay nghiêng lối đi,
Đường mây xao xuyến nẻo em về .
Con sáo hôm nào quên tiếng hót,
Em buồn nên khóc những chiều mưa .

Có phải mùa thu cũng nhớ em
Nên mưa thu khóc ở lưng trời ,
Nên mây thu cứ về qua xóm nhỏ,
Nên buồn cứ đọng mãi trong tôi .

Có phải đêm qua gió ngại ngùng,
Chở em về giấc ngủ tôi thương .
Vành môi thu nở ngây thơ quá,
Mắt-biếc-trang-ngời-mộng-thủy-tinh .

Mười-Ngón-Tay-Đan-Làm-Lũy-Nhớ ,
TÌNH-TA-LÀ-VẠN-LÝ-TRƯỜNG-THÀNH
Xin về làm cơn mơ tuổi nhỏ,
Giấc-ngủ-muôn-đời-trong-mắt-em .


Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Thương về đất mẹ


Thương về đất mẹ

Tác giả: Dương Lam [vophubong]
Ta trở về thăm quê hương cũ,
Trong giấc mơ nỗi nhớ bềnh bồng.
Bến Điện- bình con đò xưa vắng khách,
Cây đa già soi bóng nước bên sông.

Đây Phú-chiêm mì tôm vàng ,sứa bạc
Mát lòng ta từng trưa nắng đi về
Đây bãi Phương-Trà ngàn dâu xanh ngát
Dấu chân ta từng bước dõi đường quê.

Thương biết mấy con đường ra Đà- nẵng
Đồng Quế-sơn rực rỡ lúa hong vàng.
Con tu hú dục hè về rộn rã
Mui cá chuồng cơm lúa mới thơm hương.

Đình Hà- mật hôm nào vui mở hội
Tiếng trống chầu khuya rung bóng trăng vàng.
Ga Vĩnh- điện mùa tan trường phượng đỏ,
Đã xa rồi những bóng dáng thân thương.

Chợ Phú- bông ngày hai buổi họp
Mẹ oằn vai quang gánh sớm chiều,
Biển Cửa- Đại sóng pha màu lấp lánh,
Mai em về kỷ niệm nhớ mang theo.

Đây Cẩm- lậu thân yêu làng quê ngoại
Đường quanh co nước lũ những đông về.
Xóm Vạn Buồn soi mình bên sông nhỏ
Đời êm đềm như nghĩa mẹ tình quê.

Đại- lộc đó đất lành thơm trái ngọt
Vườn sang xuân hoa bướm hẹn thề.
Nhấp chút ruợu cần môi em thắm đỏ,
Thường- Đức đi về mấy dặm sơn khê.

Qua Bàn- Lãnh cây đa cao chót vót [1]
Tiếng mẹ à ơi ! giấc ngũ chiêm bao.
Đất Xuân- Đài ngàn năm thơm khí tiết,
Hoàng- Diệu xưa rạng rỡ tiếng anh hào.

Cô gái Duy- xuyên trên khung cửi,
Tay đưa thoi em dệt lụa cho đời.
Mấy độ xuân về hoa vàng rực rỡ,
Tấm lụa cho mình em dệt xong chưa ?

Đây Gò-Nổi miền dâu tằm nổi tiếng,
Sao em chưa về nhặt kén ươm tơ ?
Kéo sợi tơ vàng óng ả,
Làm sợi tơ trời, kết mối duyên thơ .

Ai ghé Tam kỳ ? Ai về phố Hội ?
Có nghe trong tim máu chảy dập dồn.
Có nghe cõi lòng rưng rưng thổn thức
Đất mẹ ngàn năm nghĩa nặng săt son.

Quảng- Đà đó với bao nhiêu kỷ niệm
Mai ta về tìm lại dấu ngày xưa
Gọi tên từng niềm thương nỗi nhớ
Viết lên muôn vạn lời thơ.



[1] Ở Gò-Nổi Điện-bàn có bài hát ru em :Cây đa mô cao cho bằng cây đa Bàn lãnh, đất mô thanh cảnh cho bằng đất Bảo an.Chỗ mô vui cho bằng chỗ Phố chỗ Hàn, dưới sông tàu chạy trên đàng ngựa xe.

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

GƯƠNG HAI VỊ NỮ ANH HÙNG DÂN TỘC : HAI BÀ TRƯNG

THƠ ĐƯỜNG LỊCH SỬ
================= 
GƯƠNG HAI VỊ NỮ ANH HÙNG DÂN TỘC :

 HAI BÀ TRƯNG


Giáp bạc yên vàng giục giã cương,

Cờ bay kiếm bạt dậy sa trường.

Long thành [1] gót ngọc an bờ cõi,

Nam quốc má hồng định nghiệp vương.

Nợ nước duyên chồng thề một dạ,

Tình em nghĩa chị nguyện chung đường.

Ngàn thu gái Việt còn kiêu hãnh,

Má phấn muôn đời tõa sắc hương


[Dương Lam -vophubong]

-------------------------------------------------------------

GHI CHU

[1] Long thành [thành Long biên địa danh Hà nội thời bấy giờ]

-------------------------------------
BAI DOC THEM

Bà Trưng quê ở Châu Phong 
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên [3]
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là Bá Vương
Uy danh động tới Bắc Phương
Hán sai Mã Viện lên đường tấn công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi địch với anh hùng được sao!
Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế cùng liều với sông!
Trước là nghĩa, sau là trung
Kể trong lịch sử anh hùng ai hơn...

[Việt nam Quốc sữ diễn ca] 
 

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

GƯƠNG DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: BÀ TRIỆU ẨU :-TRIỆU THỊ TRINH

GƯƠNG DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: BÀ TRIỆU ẨU :-TRIỆU THỊ TRINH

 THƠ ĐƯỜNG 
===========
GƯƠNG DANH NHÂN NƯỚC VIỆT

 
 [nguon:internet:]


Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta"


 
Bà Triệu Thị Trinh trong bộ ảnh Việt Nam Anh Hùng.
  [nguon:internet:]

Đạp cơn sóng dữ quậy ngông cuồng
Chém cá tràng kình dậy biển Đông

  Giúp nuớc xây nhà xua giặc mạnh
 
Dương cờ khởi nghĩa dựng binh hùng
 Bồ Điền[ 1] giữa trận so đao kiếm 

Gái Việt bên trời lập chiến công
Nữ tướng Nhụy Kiều danh nỗi tiếng [2]
Ngàn sau rạng rỡ giống Tiên-Rồng.
 
voduonghonglam- vophubong

  --------------------------------
    Chú thích:
[1] Bồ- Điền : căn cứ địa xảy ra những trận chiến quyết liệt
[Bồ Điền giữa trận so đao kiếm] giữa quân Bà và quân Ngô... 
 
[2]  Nhụy Kiều : Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa.
--------------------------------------------------------------
 
Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)
(Bà Triệu) "Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng"
 

Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ và giành độc lập cho nước nhà, nếu đỉnh cao của thế kỷ I là khu vực Giao Chỉ và đỉnh cao của thế kỷ II là vùng Nhật Nam, thì đỉnh cao của thế kỷ III lại là quận Cửu Chân. Thực ra, ngay từ cuối thế kỷ II, nhân dân Cửu Chân cũng đã từng phối hợp chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam trong cuộc đấu tranh chống ách thống tri của nhà Hậu Hán. Chính họ đã góp phần không nhỏ vào quá trình tạo lập nên vương quốc của người Chăm (năm 192). Tuy nhiên, chói lọi nhất thế kỷ III vẫn là cuộc khởi nghĩa ở trung tâm quận Cửu Chân do Triệu Thị Trinh phát động và lãnh đạo.


Triệu thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kỳ lạ, người cao lớn vú dài nǎm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên dùng tài làm con voi lạ gục đầu xin qui thuận.
Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng cǎn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà gả chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình mà đến nay không mấy người Việt Nam là không biết: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ sao lại chịu khom lưng làm  tì thiếp người ta". Truyền thuyết kể rằng, nǎm 248 khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng:

"Có Bà nữ tướng.

 Vâng lệnh trời ra.

 Cỡi voi một ngà.

 Dựng cờ mở nước.

 Lệnh truyền sau trước.

 Theo gót Bà Vương".

 Theo đó dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khǎn vàng.... dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm Chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc. Cho đến nay nhân dân vùng Thanh Hoá và lân cận còn nhiều câu ca, lời ru con nói về sự kiện này.
Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39 anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận, Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà có tính yêu sự trong sạch , ghét quân dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà quì xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn.
Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lǎng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện  Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của Dân tộc Việt Nam. 
[nguon: Lich su Viet Nam ]
 =====================

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ VÀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN KỶ DẬU [1789]

BẮC BÌNH VƯƠNG NGUYỄN HUỆ VÀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN KỶ DẬU [1789]
 
[Trích QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU ]


 
Như mơ ngày Tết xuân năm ấy
Nguyễn Huệ oai hùng giữa núi sông. 



 Áo trận thơm nồng xuân Kỷ Dậu,
Giáp bào rạng rỡ đất Thăng Long.

  Trời Nam Lừng Lẫy Trang Hào Kiệt,
Sử Việt Vang Danh Giống Lạc Hồng.
Thắp nén hương lòng dâng Tổ Quốc,
KHÓI TRẦM LỘNG GIÓ QUYỆN TRỜI ĐÔNG...
Duong Lam

 [vophubong]
  -------------------------------------------------------------------------
 
Chiến thắng XUÂN KỶ DẬU (1789)

Bài chi tiết: Trận Ngọc Hồi - Đống Đa...

Thần tốc bắc tiến

 
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa

Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh là Càn Long. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long.

Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm,[41][42] Phan Huy Ích và các mưu thần khác, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn cố thủ chờ lệnh.[43]

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn,[44][45] tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân, ngoài ra còn có một đội tượng binh gồm 200 voi chiến. Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.

Tôn Sĩ Nghị coi thường quân Tây Sơn, sau nghe lời các tướng của Chiêu Thống thì có lo đôi phần, hẹn mồng 6 Tết ra quân đánh Tây Sơn.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung hẹn ba quân ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn Tết ở Thăng Long.

Quang Trung chia quân làm 5 đạo. Một cánh do đô đốc Long chỉ huy từ làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng và phía Tây Thăng Long. Cánh đô đốc Bảo tiến đánh các đồn phía Nam Thăng Long. Trung quân do đích thân Quang Trung chỉ huy, phối hợp với đô đốc Bảo đánh diệt các đồn phía Nam Thăng Long. Cánh đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc theo đường biển ra Bắc, chặn đường lui của địch ở phía Bắc sông Nhị Hà và huyện Phượng Nhãn.

Đêm 30 tháng Chạp âm lịch, quân Tây Sơn đánh diệt đồn Gián Khẩu của các tướng Lê Chiêu Thống. Sau đó Quang Trung đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó cánh quân của đô đốc Long bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn lính bỏ mạng. Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh chết sau xếp thành 13 gò đống lớn,[46] có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa.

Đô đốc Long tiến vào đánh phá quân địch phòng thủ ở Tây Long. Sáng mồng 5, Quang Trung mới cùng đô đốc Bảo tổng tấn công vào đồn Ngọc Hồi. Trước sức tấn công mãnh liệt của Tây Sơn, quân Thanh bị động thua chết hàng vạn, phần lớn các tướng bị giết.[47] Trong khi Quang Trung chưa đánh Ngọc Hồi thì Tôn Sĩ Nghị nghe tin đô đốc Long đánh vào Thăng Long, cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy trước. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều làm dòng sông bị nghẽn dòng chảy. Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh, tơi tả chạy về. Lê Chiêu Thống hớt hải chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người.[48][49]

Như vậy, sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân Thanh. Trưa mồng 5 Tết, Quang Trung tiến vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân.

Ngô Ngọc Du là một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt đó trong một bài thơ:


Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương

Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh

Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
"Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta"

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA

VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA

[Trích QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU]
 
Muôn câu ý đẹp tình thêm đẹp,
Rượu tiễn chàng đi bước hải hồ.[5]



 
Vạn dặm kiếm hồng tung vó ngựa,
Ngàn năm khuê các dậy lầu thơ...[6]
Ta vây Khương thượng - giặc tan vỡ,
Địch đến Nhị hà-  nươc nghẽn bờ.[7]
Thây giặc chất cao thành gò Đống,[8]
Thanh triều nửa tĩnh nửa như mơ...[9] 
 

Duong Lam -vophubonng
 

---------------------------------------------
Chú thích và bình luận :
 

[5] Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long.Quân Tây Sơn do Đại tư mã Ngô Văn Sở, theo mưu kế … , chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - cố thủ chờ lệnh. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân , Nguyễn Huệ thống lãnh đại quân tiến ra Bắc. Ngọc Hân công chúa tức Hữu cung hoàng hậu tiễn đưa [ Rượu tiển chàng đi bước hải hồ , Vạn dặm kiếm hồng tung vó ngựa …]
[6]. Ngọc Hân Công chúa là một cô gái thông minh, một nữ sĩ tài hoa ,hương sắc vẹn toàn .Từ nhỏ đă được học thông kinh sử và giỏi thơ văn .Bà đã nỗi tiếng trong làng thơ nôm với bài “Ai tư vãn” gồm 164 câu,theo thể song thất lục bát ca tụng chiến công vua Quang Trung Nguyễ n Huệ [ Ngàn năm khuê cát dậy lầu thơ…]
[7,8] Đêm 30 tháng Chạp âm lịch Quang Trung đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó cánh quân của đô đốc Long bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn quân lính bỏ mạng. [Ta vây Khương Thượng giặc tan vỡ …] Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh chết sau xếp thành 13 gò đống lớn,có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa. [Thây giặc chất cao thành Gò Đống…]
Sáng mồng 5, Quang Trung mới cùng đô đốc Bảo tấn công vào đồn Ngọc Hồi. Trước sức tấn công mãnh liệt của Tây Sơn, quân Thanh bị động thua chết hàng vạn, phần lớn các tướng bị giết.Trong khi Quang Trung chưa đánh Ngọc Hồi thì Tôn Sĩ Nghị nghe tin đô đốc Long đánh vào Thăng Long, cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy trước. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều làm dòng sông bị nghẽn dòng chảy. [Địch đến Nhị hà nước nghẽn bờ ]… Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh, tơi tả chạy thoát sang bên kia biên giới. Quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới cho đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Bởi thế dân Tàu ở biên giới dắt nhau bỏ chạy làm cho suốt năm sáu chục dặm đường không có bóng người và trâu bò súc vật…
Như vậy, sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày với kế hoạch tốc chiến tốc thắng ,với thiên tài mưu lược về quân sự của Nguyễn Hụê , quân Tây Sơn với quân số 10 vạn [phần lớn là dân quân chưa được tập luyện] đã đánh tan 29 vạn quân Thanh , lập nên một kỳ công hiển hách nhất trong lịch sữ nước ta và cả thế giới...Trưa mồng 5 Tết xuân Kỹ Dậu, Quang Trung với chiến bào đầy khói đen ,trên mình voi nhuộm đầy khói súng tiến vào thành Thăng Long trong sự vui mừng hã hê chào đón của toàn dân. … [Sau này khi nhớ lại lời hứa hẹn 10 năm sau vua Quang Trung sẽ lấy lại 2 tỉnh Quảng đông và Quảng tây mà Tàu đã chiếm của nước Nam ta trước kia không phải là lời nói quá nếu nhà vua không mất sớm…]!!!
[9]Tin bại trận đưa về, Càn long mắt nhắm mắt mở, nửa tĩnh nửa mê…Thôi rồi giấc mộng đế quốc bành trướng của triều Thanh tan tành thành mây khói…[Thanh triều nửa tĩnh nửa như mơ…]
[ thơ Dương Lam ]


nguon :  [Lich su Viet nam.]

BLOG vophubong[voduonghonglam]: VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA

BLOG vophubong[voduonghonglam]: VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA: THƠ ĐƯỜNG LỊCH SỬ  ==================   VẠN DẶM KIẾM HỒNG TUNG VÓ NGỰA [ Trích QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU]   Muôn câu ý đẹp tình thê...

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

toc đuôi gà

toc đuôi gà
 
 
 

Hỡi cô bé nhỏ tóc đuôi gà?



Đường tới nhà em mấy dặm xa???



Dầu có trường thành ngăn bóng liểu,



Dù cho nắng ngã với dương tà.



Má hồng mê mãi lòng say đắm.



Môi đỏ thầm thì giọng xuýt xoa…



Nhớ nhé email hay face book,



Cho anh. ..Cô bé tóc đuôi gà…



Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

XUÂN MÃI LÀ XUÂN...

XUÂN MÃI LÀ XUÂN...
 


Xuân mãi là xuân mãi hát ca,  
Xuân đâu đây ở khắp muôn nhà…  
Xuân bên chén rượu nồng say đắm,  
Xuân cạnh nụ hồng thắm trổ hoa.  
Xuân đến sáng nay bên nắng sớm,  
Xuân về đêm ấy giữa trăng tà...  
Xuân em ,xuân bác ,xuân anh chị, 
 Xuân mãi là xuân của chúng ta.


Xuân mãi là xuân của chúng ta.
Xuân mang tươi khỏe đến muôn nhà.
Xuân em lữa bén ngàn duyên thắm,
Xuân chị hương nồng vạn sắc hoa.
Xuân của đất trời luôn bất tuyệt,
Xuân trong tâm thức lẽ đâu tà ?
Xuân qua xuân lại rồi xuân đến,
Xuân mãi còn xuân giữa chúng ta… 
voduonghonglam[vophubong] 
  

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

 

NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ

 
Con Gà cục tác lá chanh
Con Lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con Chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
 
   Bốn câu thơ bình dân trên đã mô tả đúng cách nấu ăn của dân tộc ta tại thôn quê miền Bắc.  Con Gà được nhắc đến trước tiên có lẽ vì thịt Gà là một trong những món ăn quen thuộc , vừa ngon miệng và đầy đủ dinh dưỡng.Người dân Giao Chỉ chúng ta sành ăn đã biết biến chế ra nhiều món nào là: Gà rô ti, gà xào xã ớt, gà xối mỡ, gà ram mặn, gà nướng ngũ vị hương, gà nấu mắm, gà hấp muối, gà cà ri, cành gà chiên bơ, gà tiềm thuốc bắc … và còn nhiều kiểu nấu khác …
    

   Vào cuối thập niên 1950, tại Sàigòn có cuộc bút chiến giữa hai tờ nhật báo về vụ Gà Mỹ và Gà Ta. Vào thời điểm này, có phong trào nuôi gà Mỹ do bộ Canh Nông khuyến khích và hướng dẫn.  Gà được nuôi trong chuồng bằng lưới kẽm và cho ăn loại thực phẩm trộn sẵn.  Những độc giả tham gia cuộc chiến, và đã chia ra làm hai nhóm và với hai quan điểm khác nhau:

   Nhóm gà Mỹ: Cho rằng nuôi theo kiểu Hoa Kỳ khoa học hơn, sản xuất mau chóng, gà ít bị mắc bệnh, ăn hợp vệ sinh hơn.
   Nhóm gà Ta: Chủ trương nuôi gà theo phương pháp tự nhiên, thả chạy rong ngoài vườn để gà tự do bươi đất tìm thức ăn như côn trùng, giun dế..do đó thịt cứng và thơm ngon.
   Cuộc bút chiến càng ngày càng sôi nổi, có người còn ví von gà Mỹ như cô gái thị thành, trắng trẻo, mềm mại, trông hấp dẫn nhưng da thịt nhão, ăn mau chán.
   Ngược lại gà rẫy được ví như cô gái quê miệt vườn, tuy trông quê mùa nhưng da thịt cứng cáp, hương vị đậm đà, ngát thơm hương cốm.
   Trong lúc trận bút chiến đang hồi gay cấn, ông Kỹ Sư canh nông đặc trách chương trình chăn nuôi liền viết một bài lên tiếng trên mặt báo:  Cho rằng nuôi gà theo kiểu Mỹ lợi tức cao, thịt gà tinh khiết hợp tiêu chuẩn vệ sinh. Riêng ông, vì nặng lòng với quốc gia dân tộc, cá nhân ông vẫn thích ăn gà ta! Thế là cả hai phe lâm chiến đều vui vẻ, đồng ý hoà hợp dân tộc, sống chung hoà bình.
   Con gà rất gần gũi với giới bình dân Việt Nam. Vào dịp tết Nguyên Đán, người ta thường treo lên vách bức tranh gà sặc sở cho có vẽ mùa Xuân.
     Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
     Om xòm trên vách bức tranh gà.
   (Tú Xương)
   Trong đêm khuya thanh vắng tiếng gà gáy là đồng hồ báo thức bác nông dân để sửa soạn ra đồng, hoặc báo cho chú Tiểu trong chùa pha trà, nện chuông cúng Phật:
    Gió đưa cành trúc la đà
    Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

Hoặc:
    Canh gà điểm nguyệt, tiếng chày nện sương.

   Trên đường ra chợ lúc còn tinh sương, các cô gánh hàng cũng nghe văng vẳng tiếng gà bên tai:
    Sớm mai gà gáy ó o
    Chưa ra tới chợ­, đã lo ăn hàng.

   Thậm chí, cách trang điểm của đàn bà Việt Nam cũng liên hệ đến con gà.  Kiểu bới đầu có thả vòng  và chừa một chỏm tóc phía sau ót gọi là "bới tóc đuôi gà". Nơi nhãn hiệu xà bông Cô Ba của hãng Trương Văn Bền thời tiền chiến, có hình kiểu bới tóc này.  Cục bưu chính Đông Dương trước kia cũng đãphát hành một loại tem có hình cô Ba, với búi tóc đuôi gà.

   Chàng thanh niên chất phác, vì quá yêu cô thôn nữ, có thể đón đường cô gái để tỏ tình một cách táo bạo:
    Chị kia bới tóc đuôi gà
    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?
    ...Nhà tôi ở dưới đám dâu
    Ở bên đám dậu, đầu cầu ngó qua...

   Gà sống quanh quần sau hè, gần gủi với loài người, nên dễ nhận xét điệu bộ, diện mạo của gà.  Do đó, mọi việc hay dở đều lôi con gà ra đề ví von:
   Người có bộ mặt ngơ ngác gọi là “gà mở cửa mã”
   Người xơ xác gọi là “gà kẹt giỏ”
   Người tiều tuỵ gọi là “gà mắc nước”
   Kẻ ngất ngư gọi là “gà nuốt giây thun”
   Kẻ khù khờ gọi là “gà trống thiến”
   Kẻ nhát gan gọi là “gà phải cáo”
   Kẻ nhầm lẫn gọi là “trông gà hoá quốc”
   Kẻ bất tài gọi là “gà què ăn quẩn cối xay”
   Kẻ phản bội gọi là “gà nhà bôi mặt đá nhau”
Trước cảnh huynh đệ tương tàn, người ta hay khuyên bảo:
   Khôn ngoan đối đáp người ngoài
   Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

 Sau cùng, các người đàn bà đanh đá được tặng cho hỗn danh:
    Nữ kê tác quái, gà mái đá gà cồ.

   Gà thuộc loại hạ đẳng, chỉ dùng làm thực phẩm bình dân hàng ngày, không thể thết đãi hàng thượng khách.  Trong buổi tiệc lịch sử tại Bắc Kinh do Chủ tịch Mao Trạch Đông khoản đãi Tổng thống Nixon năm 1972, gồm hai mươi mốt món, nhưng không có món thịt Gà.  Quả thật người Trung Hoa rất tế nhị trong vấn đề ăn uống.
   Ở nước ta, Cụ nguyễn Đình Chiểu cũng rất gần sành nghi thức đãi tiệc.  Trong bài thơ Ông Quán, cụ Đồ đã chào hàng một cách thật hấp dẫn:
    Quán rằng thịt cá ê hề
    Khô lân chả phụng bộn bề thiếu đâu
    Kìa là thuốc lá ướp ngâu
    Trà ve tuyết điểm, rượu bầu cúc hương
    Để khi đãi khách giàu sang
    Đãi người danh vọng, đãi trang anh hùng.

Như vậy, trong thực đơn của cụ Đồ Chiểu cũng không có món thịt gà.

   Trong văn chương cũng như ngôn ngữ hằng ngày, con gà dù được nhân cách hoá cũng chỉ nói đến những người thường bình dân, còn những bậc chính nhân quân tử thì được ví như những con Phượng hoàng trên cao mà thôi:
    Phượng hoàng đậu nhánh cheo leo
    Sa cơ thất thế phải theo đàn gà
    Bao giờ mưa thuận gió hoà
    Thay lông đổi cánh lại ra Phượng hoàng.

   Vậy mọi người trong chúng ta có ai đã thấy được Phượng hoàng chưa?

   Xin chúc tất cả quý độc giả một năm Ất Dậu đầy hỷ sự.
   Cảm ơn Anh Trần Hội đã giúp em có những tài liệu này.

Nguyễn Phước Mộng Thiên
 
http://vanghe.blogspot.com/2016/12/nam-dau-noi-chuyen-ga.html